Nintendo qua 30 năm phát triển

Game & Watch (1980)

gw.jpg

Hầu hết các máy điện tử cầm tay từ cuối thập kỉ 70 sử dụng đèn LED để hiển thị hình ảnh. Công nghệ này khá phổ biến, mang lại hiệu quả cao nhưng tiêu tốn khá nhiều năng lượng lúc hoạt động. Lúc bấy giờ tại Nintendo, kỹ sư Gunpei Yokoi đã phát triển thành công cách thức giúp tiết kiệm năng lượng bằng cách sử dụng công nghệ LCD thông qua việc tắt hoặc mở có thứ tự các điểm trên màn hình để tao hình ảnh chuyển động

Game & Watch xuất xưởng năm 1980 với game có tên khá đơn giản “Ball”, trong khi chơi, người chơi sẽ di chuyển nhân vật đưa tay ra trước hoặc sau để thực hiện thao tác tung hứng bóng. Sau sự thành công của “Ball”, Nintendo đã tiếp bước phát triển thêm “Flagman”, “Vermin” và “Fire”, mỗi game mang một đặc trưng riêng. Dòng series này đã mở ra hàng loạt các dạng các game làm nên tên tuổi của Nintendo như  Mickey Mouse, Popeye, Donkey Kong.

Dòng sản phẩm Game & Watch được liên tục được cải tiến về mẫu mã và chức năng trong suốt một thập niên. Đến năm 1991, Nintendo quyết định ngừng sản xuất dòng sản phẩm này, tuy nhiên thiết kế của Game & Watch, đặt biệt với sự cải cách các nút D-pad, là tiền đề cho hàng loạt các sản phẩm sau này của Nintendo như Game Boy, Game Boy Advance, Nintendo DS…

Game Boy (1989)

Tuy Game & Watch là dòng sản phẩm đầu tiền về máy chơi game cầm tay của Nintendo, nhưng chính Game Boy mới tạo nên tên tuổi cho Nintendo trên thị trường. Sau thành công của Game & Watch, kĩ sư Gumpei Yokoi đã tiếp tục ứng dụng những kiến thức về máy game cầm tay, phát triển ra môt hệ thống video game đa năng, kết quả là Game Boy ra đời.

Game Boy cũng sử dụng màn hình LCD, nhưng khác với Game & Watch, màn hình LCD của game boy có nhiều điểm hiển thị hơn, điều này đồng nghĩa với chất lượng hình ảnh được gia tăng, tạo điều kiện cho các nhà lập trình viết những game có độ phức tạp cao. Bên cạnh đó, Game Boy còn hỗ trợ việc 2 người có thể tranh tài với nhau thông qua cổng “Game Link”, điều này góp phần tăng tính hấp dẫn của game hơn là việc chơi single.

Thời kỳ hoàng kim của Game Boy kéo dài hơn 5 năm, tuy sau đó có sự tham gia các hãng khác vào thị trường như SEGA’s Game Gear, Atari’s Lynx… với công nghệ màn hình màu, nhưng Game Boy với ưu thế về tên tuổi, cùng với sự tham gia đông đảo sản xuất game của các hãng thứ 3, bên cạnh đó là thời lượng pin sử dụng lâu, v.v… đã giúp hệ máy này chiến thắng và giành được thị phần. Tuy vậy năm 1995, Nintendo đã đem lại sức sống mới cho hệ máy đã 6 năm tuổi này bằng việc ứng dụng công nghệ hiển thị màu.

Virtual Boy (1995)

Vitual Boy là sáng tạo nữa của Gumpei Yokoi và nhóm làm việc của ông, Virtual Boy mang vóc dáng lai giữa máy cầm tay và console.

Giống như Game Boy, Virtual Boy cũng chạy bằng pin và sử  dụng màn hình hiển thị LCD, dù vậy đó chỉ là vài điểm giống nhau cơ bản. Điểm nổi bật của Virtual Boy là công nghệ ứng dụng 3D. Với 2 màn hình LCD được đặt vào mắt phải và mắt trái khi chơi, người chơi sẽ có cảm giác như đang là nhân vật chính trong game, có thể cảm nhận mọi thứ diễn ra xung quanh.

Tuy nhiên với giá thành cao ngất ngưỡng khiến cho Virtual Boy khó lòng giành được thị phần cao, mặc dù sau đó Nintendo đã cố gắng tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm giảm giá thành. Nhưng điều đó vẫn không tác động nhiều tới doanh số bán ra, bởi lẽ ngoài giá cả, khi chơi Virtual Boy đòi hỏi phải có 1 căn phòng trống trãi để người thao tác, bên cạnh việc khi chơi chỉ có duy nhất người chơi thấy được những gì đang diễn ra, điều này không thú hút được số đông những người ở ngoài đứng xem để bàn luận.

Tuy Virtual Boy có 1 vài tựa game thành công như Mario Clash, Telero Boxing… nhưng với hiệu quả doanh thu không như mong đợi, dòng sản phẩm đã phải ngưng phát triển chỉ sau 1 năm ra mắt. Virtual Boy cũng là sản phẩm cuối cùng mà Gunpei Yokoi thiết kế cho Nintendo

Game Boy Pocket (1996)

Sau hơn 6 năm ra mắt Game Boy, Nintendo tiếp tục đưa ra hệ máy Game Boy Pocket cải tiến đầu tiên, với việc ứng dụng những thành tựu công nghệ mới nhằm giảm chi phí đồng thời làm cho kích thước thon gọn hơn.

Game Boy Pocket kế thừa những điểm nổi bật của Game Boy, bên cạnh đó được tăng cường hiển thị với màn hình LCD có độ nét cao, sử dụng 2 pin AAA thay cho 4 pin AA trước đây nhằm giảm kích thước và trọng lượng, đồng thời các kỹ sư của Nintendo đã cải tiến cổng “Game Link” cho nhỏ gọn hơn, cùng với dụng cụ hỗ trợ “link port trading” cho phép các máy Game Boy thế hệ trước có thể kết nối với Game Boy Pocket 1 cách dễ dàng.

Game Boy Light (1997)

Game Boy Light và Game Boy Pocket khá giống nhau về kiểu dáng cũng như chức năng, không có thay đổi gì nhiều so với phiên bản trước, nhưng có 1 chức năng đặc biệt được bổ sung, Game Boy Light hỗ trợ hiển thị hình ảnh trong môi trường anh sáng yếu. Điều này được rút ra từ nhược điểm dòng Game Boy: khi không có ánh sáng thì bạn sẽ không thể nhìn thấy những gì đang diễn ra trên màn hình.

Game Boy Light ứng dụng công nghệ tương tự như hãng Timex áp dụng vào đồng hồ Indiglo, màn hình LCD của Game Boy Light được rọi sáng bằng ánh sáng xanh tiêu thụ điện năng thấp.

Game Boy Color (1998 )

Năm 1998, Nintendo cho ra đời dòng sản phẩm cầm tay hiển thị màu sắc đúng như những gì mà giới chơi game mọng đợi. Game Boy Color tương thích 100% với những game dành cho dòng Game Boy được phát hành trước đây, bên cạnh đó các nhà phát triển còn có thể kết hợp các code hiện thị màu vào game trước đây, khiến cho những game chỉ thể hiện được trắng – đen khi chơi trên Game Boy Color sẽ thấy thêm được nhiều chi tiết. Đồng thời Game Boy Color cũng được trang bị thêm cổng hồng ngoại để truyền dữ liệu.

Các nhà viết game cho Game Boy Color có thể không cần lo lắng về vấn đề tương thích với các hệ máy trước đó, họ có thể tạo những game chỉ tương thích với hệ Game Boy Color nhằm tăng khả năng hiệu ứng về hình ảnh và âm thanh, cũng nhờ vấn đề các game hay chỉ chạy trên dòng Game Boy Color, chỉ trong khoảng 3 năm, Nintendo đã bán được “hàng tấn” máy Game Boy Color.

———-

Game boy Advance (2001)

Sau hơn 1 thập niên phát triển trên nền tảng 8-bit còn nhiều hạn chế, cuối cùng Nintendo cũng đã thổi một luồng sinh khí mới vào thị trường máy chơi game cầm tay bằng việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất cho thế hệ sản phẩm mới. Nếu như Game Boy ví như hệ máy NES thì Game Boy Adavnce sẽ là Super NES (2 hệ máy console nổi tiếng của Nintendo). Game Boy Advance có ba màu: tím, xanh và trắng. Sản phẩm được trang bị bộ vi xử lý 32 bit và màn hình tinh thể lỏng TFT LCD 2,9 inch, với khả năng hiển thị 32.768 màu và tiết kiệm năng lượng. Khác với những máy trước, Game Boy Advance có một bộ điều khiển nằm ngang và những nút bấm phụ giúp dễ dàng điều khiển trò chơi hành động. Bên cạnh đó, nó còn có thể liên kết bốn hệ thống Advance lại với nhau khi đấu game. Game Boy Advance tương thích ngược với Game Boy, Game Boy Light và Game Boy Color đang được bán ra trên thị trường.

Pokemon Mini (2001)

Pokemon Mini lấy ý tưởng từ những món đồ chơi bỏ túi nho nhỏ có nội dung game nuôi và huấn liên Pikachu, sau đó Nintendo đã phát triển ý tưởng đó thành hệ thống game hoàn thiện, sử dụng màn hình LCD độ phân giải thấp để hiển thị, đây được xem là hệ thống đơn giản và nhỏ gọn nhất của Nintendo.

Để tạo được độ “thật” cho Pokemon, Nintendo đã tận dụng những công nghệ do đạt chuyển động và khả năng cảm nhận tình huống để làm những chú Pokemon giống như 1 thú nuôi thật thụ. Đi kèm với Pokemon Mini là Pokemon Party, băng game này bao gồm 6 thú nuôi Pokemon đặc trung nhất. Từ đó đã có gần 12 băng game cho Pokemon Mini được phát hành cho đến khi Nintendo ngừng sản xuất hệ máy này.

Giống như Game Boy Color, Pokemon Mini cũng được trang bị cổng hồng ngoại để truyền dữ liệu, bên cạnh đó là chế độ “rung” mỗi khi chơi game tạo cảm giác thật cho người chơi.

Game Boy Advance SP (2003)

Kể từ ngày hệ máy Game Boy nguyên bản đầu tiên được sản xuất (1989), các dòng sản phẩm về sau liên tục được cải tiến về công nghệ và kích thước, nhưng hình dạng chung vẫn chưa có nét gì thay đổi lớn, điều này không tạo được cảm giác “mới mẻ” cho những sản phẩm chơi game cầm tay của Nintendo. Nắm được suy nghĩ này, Game Boy Advance SP đã ra đời nhưng 1 kiểu phá cách, mang lại 1 diện mạo mới trẻ trung và hiện đại.

Với thiết kế dạng nấp gập vỏ sò, Game Boy Advance SP nhìn không khác gì một chiếc điện thoại di động sành điều, gọn nhẹ và tiện dụng, màn hình LCD được trang bị thêm đèn chiếu sáng giúp người chơi sử dụng được trong môi trường ánh sáng yếu, đồng thời để giảm thiểu kích thước, Nintendo trang bị cho Game Boy Advace SP pịn sạc gắn sẵn trong máy, điều này cũng mang lại thuận tiện bởi lẽ người chơi không còn phải tháo lắp pin mỗi khi cần. Tuy nhiên Game Boy Advance SP lại được trang bị cổng cắm tai nghe theo chuẩn riêng của Nintendo, điều này khá bất tiện bởi những người chơi nếu muốn sử dụng tai nghe thông dụng khác trên thị trường phải mua thêm 1 adapter chuyển đổi.

Hơn 2 năm sau kể từ ngày ra đời phiên bản đầu tiên, Game Boy Advance SP đã có thêm nhiều cải tiến về mẫu mã, năm 2005, Nintendo thay đổi màn hình hiển thị LCD truyền thống, công nghệ mới với khả năng thay đổi các điểm sáng tinh vi khiến hình ảnh trở nên sống động hơn.

Nintendo DS (2004)

Với sản phẩm Game Boy Advance, Nintendo hầu như chiếm lĩnh được thị trường máy chơi game cầm tay, với doanh số vào khoản 100 triệu sản phẩm được bán ra trên khắp thế giới. Tuy nhiên với việc Sony tung ra hệ máy chiến lược Playstation Portable (PSP), thì Nintendo DS chính là vũ khí mới trong cuộc cạnh tranh thị phần, hứa hẹn khả năng thành công hơn cả Game Boy Advance.

Thiết bị có hai màn hình khác nhau để người có thể kiểm tra bản đồ trên một màn hình trong khi game đang được chơi trên màn hình khác. Nintendo DS được trang bị mạng không dây có tầm từ 9 đến 30 m, cho phép game thủ có thể tham gia các trò nhiều người chơi (multiplayer) với một card DS. Thiết bị có một màn hình cảm ứng và microphone để điều khiển bằng giọng nói. Phần mềm chat đi kèm cho phép 16 người sử dụng chat cùng lúc. Đây là dòng sản phẩm cầm tay công nghệ cao của Ninendo, được ví như trụ cột thứ 3 (sau Game Boy và Game Boy Advance) đem lại thị phần cho Nintendo.

Game Boy Micro (2005)

Chưa đầy 1 năm sau khi Nintendo cho ra đời hệ máy Nintendo DS với tính năng Touch Screen thì nay Nintendo lại cho ra một hệ máy mới đi theo thế hệ đàn anh của mình được gọi là Gameboy Micro.

Game Boy Micro là bản thu gọn của Game Boy Advance, nhắm vào thị hiếu người tiêu dùng với kích thước gọn và kiểu dáng thanh lịch, đồng thời màn hình LCD được ứng dụng công nghệ backlit thay cho front-lit trước đây khiến cho hình ảnh được mịn hơn. Game Boy Micro thừa hưởng hầu hết những đặc tính của Game Boy Advance, nhưng lại mất đi khả năng đọc được game của Game Boy và Game Boy Color. Jack cắm tai nghe của Game Boy Micro cũng được thiết kế lại theo chuẩn chung để người chơi có thể sử dụng các loại tai nghe thông thường mà không cần sử dụng adapter. Tuy nhiên với giá thành cao, cộng với việc phải thiết kế thu nhỏ nút bấm và bớt đy nhiều thứ để phù hợp với kích thước nhỏ gọn khiến người chơi khó thao tác, đã làm cho dòng sản phẩm này không đạt được nhiều thành công khi ra mắt.

Nintendo DS Lite (2006)

Trong vòng 2 năm sau khi ra mắt, Nintendo DS đã chứng tỏ được khả năng của mình đúng như những gì Nintendo mong đợi, bởi lẽ Ninendo DS đã thay thế được vị thế thống trị của đàn anh Game Boy Advance, để tiếp tục phát huy ưu thế này, công ty tiếp tục cho ra sản phẩm nâng cấp kế tiếp nhằm khắc phục những lỗi còn sót lại của phiên bản cũ, bởi lẽ Nintendo DS không được đẹp mắt cho lắm trong mắt người nhìn, hình dáng cục mịch, các góc cạnh còn thô, đặc biệt màn hình sử dụng công nghệ đã cũ so với hiện tại, điều này khiến cho một số game có khung cảnh tối sẽ không được phát huy các chi tiết.

Nintendo DS Lite chính là bản vá lỗi cần thiết của dòng sản phẩm này. Nintendo DS Lite có vóc dáng khỏe mạnh và thon gọn hơn, màn hình được tăng cường độ sáng và hình ảnh chuyển động mịn màng, bút cảm ứng được thiết kế “đầm tay” giúp cho việc thực thi các thao tác trên màn hình dễ dàng hơn.

Nintendo DSi (2008 )

Sau sự thành công ngoài sức tưởng tượng của Nintendo Wii, mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho công ty, Nintendo cũng không quên nghĩ đến “con gà đẻ trứng vàng” DS Lite, và Nintendo DSi chính đánh dấu sự đầu tư trở lại của Nintendo cho dòng sản phẩm DS.

Nintendo DSi thừa hưởng những điểm nổi bật của Nintendo DS Lite, màn hình được mở rộng, hỗ trợ thẻ nhớ SD lưu trữ dữ liệu, đặc biệt tích hợp camera và microphone hỗ trợ voice chat,… Với sự bổ sung này, Nintendo DSi đã chấm dứt triều đại của dòng máy Game Boy, khép lại hơn 1 thập niên hoàng kim của Game Boy.

~Theo ign

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: