Proxy Server là gì?

Định nghĩa: Proxy Server (PS) là một server Internet làm chức năng kiểm soát việc truy cập Internet của các máy khách. Sử dụng PS, công ty có thể cấm nhân viên truy cập những địa chỉ Web không mong muốn, cải thiện tốc độ nhờ lưu trữ cục bộ các trang Web và giấu định danh của mạng nội bộ để gây khó khăn cho người muốn thâm nhập từ bên ngoài.

PS giống như một vệ sĩ: bảo vệ máy khách khỏi những rắc rối thường có trên Internet. Một PS thường nằm bên trong tường lửa, giữa trình duyệt Web và server thực, làm chức năng tạm giữ những yêu cầu Internet của các máy khách để chúng không thể giao tiếp trực tiếp với Internet. Điều này bảo đảm rằng người dùng không truy cập được thông tin không mong muốn, chẳng hạn như những cơ sở Web về hình ảnh khiêu dâm hay những trang Web bị công ty “cấm cửa”.

Với PS, các công ty có thể kiểm soát được việc truy cập Internet bằng cách loại bỏ một số địa chỉ Web khỏi danh sách các Web site được phép truy cập của máy khách. Ví dụ không muốn nhân viên mua bán cổ phiếu trong giờ làm việc thì nhà quản trị mạng có thể dùng PS để khóa việc truy cập vào các site tài chính trong một số giờ.

Mọi yêu cầu của máy khách đều phải đi đến PS, nếu địa chỉ IP có trên proxy, nghĩa là Web site này được lưu trữ cục bộ, thì trang này sẽ được phép truy cập mà không cần phải kết nối với Internet; nếu không có trên PS và trang Web không thuộc loại bị cấm, yêu cầu sẽ được chuyển đến server thực và sau đó ra Internet.

PS cho phép các công ty lưu trữ cục bộ các trang Web thường được truy cập nhất trong bộ đệm và như thế sẽ tiết kiệm được chi phí. Việc ghi xuống bộ đệm những trang Web cũng làm tăng tốc độ hiển thị các trang Web vì chúng được truy cập nhanh chóng từ đĩa cứng thay vì phải qua Internet.

Người dùng phổ biến nhất của PS là những nhà cung cấp dịch vụ Internet như America Online và những công ty lớn, không chỉ muốn tải xuống nhanh mà còn muốn chia sẻ một tập những địa chỉ IP, với số lượng hạn chế, cho các nhóm người dùng của mình; hơn nữa việc gán địa chỉ Internet cho tất cả người dùng rất tốn thời gian.

PS cũng bảo vệ mạng nội bộ khỏi bị xác định bởi bên ngoài. Nó thực hiện chức năng này bằng cách mang lại cho mạng hai định danh: một để dùng trong nội bộ và một để dùng cho bên ngoài. Điều này tạo nên một “bí danh” đối với thế giới bên ngoài, nhờ thế sẽ gây khó khăn nếu người dùng muốn “tự tung tự tác” hay các tay bẻ khoá muốn xâm nhập trực tiếp đến một máy nào đó. Ngoài ra, cách này cũng giúp mạng duy trì được tính “nặc danh tương đối” để những nhà tiếp thị khó lòng lần theo dấu vết những Web site mà người dùng có truy cập đến.

PS còn làm cho việc sử dụng băng thông hiệu quả hơn. Với băng thông hạn chế mà yêu cầu truy cập Internet lại rất cao, thì PS là cách có lợi. Giả sử, một cơ quan có hai kết nối: kết nối 56K bit/s với Internet và kết nối Ethernet cục bộ với 50 PC. Nếu không có PS, mỗi yêu cầu và phản hồi Internet đều truyền trên đường 56K, như vậy có thể xảy ra tình trạng tắt nghẽn nếu có nhiều người dùng truy cập đồng thời Internet. PS cho phép người dùng truy cập Internet một cách cục bộ qua kết nối Ethernet, nhờ vậy nhiều yêu cầu cho cùng trang Web sẽ không tràn ngập đường kết nối 56K.

Khuyết điểm

Tuy nhiên, không phải lúc nào PS cũng hữu ích, ví dụ như khi gặp phải loại thông tin không cho phép lưu lại trên bộ đệm kiểu như CGI (PC World Việt Nam 10/99, trang 74). Mặt khác, tốc độ cũng sẽ bị ảnh hưởng vì PS kiểm tra từng yêu cầu trước khi phản hồi.

Những mức độ khác nhau đối với việc truy cập Internet của máy khách. Máy A, B, C và D phải qua nhiều cấp proxy trong khi máy E chỉ qua một cấp.

Computerworld

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: